Thương mại hóa để bảo hộ quyền TS Thu Hà, Th
Trong đó đa phần các cơ quan nghiên cứu khoa học ở trung ương (viện, trung tâm, trường đại học…) làm nhiệm vụ lai tạo, tuyển lựa giống mới. Qua khảo nghiệm và sản xuất thử, nếu thành công, giống mới sẽ được xác nhận và cho phép sử dụng. Đây là "vốn gốc" để các nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu. Phương pháp kinh doanh "đơn giản" này tồn tại trong mấy chục năm qua, các cơ quan ứng dụng hoàn toàn được hưởng cơ chế bao cấp từ thành quả của công tác nghiên cứu.
Các loài hoa, cây cảnh, cây công nghiệp, cây dược chất, cây thủy sinh chưa có giống mới nào được bảo hộ. Điều đáng nói là trong số 52 giống đã được cấp Bằng có tới 60% là giống của các đơn vị nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài, số còn lại là các giống mới do các đơn vị trong nước chọn tạo thành công, mà cốt là ở một số đơn vị mạnh như Viện Nghiên cứu Ngô (Viện KH nông nghiệp Việt Nam), Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Viện sinh vật học nông nghiệp (Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội).
Trong khi đó, ở nhiều nhà nước, Thương mại hóa tài sản trí não là cách mà họ áp dụng khi muốn thực hành việc bảo hộ quyền giống cây trồng. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, trong điều kiện nước ta hiện giờ, việc áp dụng phương thức mua bản quyền để được sinh sản kinh dinh giống mới là rất khó, bởi giá chuyển nhượng bản quyền của một giống còn khá đắt so với điều kiện và khả năng tài chính của các cơ sở (từ vài trăm triệu cho tới hàng chục tỷ đồng).
Để có các thông báo nói trên, người mua phải nghiên cứu, tiếp cận kỹ lưỡng, thậm chí cần kiểm chứng bằng khảo nghiệm, thực nghiệm tại địa phương. Mặt hạn chế của cơ chế này là không tạo được động lực về vật chất và ý thức cho người nghiên cứu, cũng như không làm bật ra sự năng động, nghĩa vụ của người sử dụng (các công ty, đơn vị dịch vụ…). Các cơ quan chuyên ngành ở địa phương, nếu thấy thích hợp, chỉ việc kết nạp để tổ chức nhân ra giống thương phẩm bán cho nông dân.
Ảnh minh họa kinh doanh còn "đơn giản" Kể từ khi trở thành thành viên của Hiệp hội quốc tế về Bảo vệ giống cây trồng mới (năm 2006 đến nay), danh mục loài cây trồng có quyền được bảo hộ ở nước ta do Bộ NN&PTNT công bố khoảng gần 70 loài.
Một trong những duyên cớ dẫn đến tình trạng trên, theo các chuyên gia, là do chúng ta từ lâu nay đã để tồn tại cơ chế bao cấp từ thành quả của công tác nghiên cứu.
Các yêu cầu này, cộng với những thủ tục, quy trình để được công nhận một giống mới và cấp bằng bảo hộ cần một khoảng thời kì dài, phải từ 2 tới 3 vụ trở lên, dẫn tới độ trễ của việc kết nạp giống mới ra sản xuất.
Song song với đó cần chính sách tương trợ thỏa đáng cho các nhà khoa học, chí ít phải ở mức đủ sống để làm nghiên cứu. Sau một đôi vụ, giống có tả thoái hóa sẽ được tổ chức chọn lọc lại nhằm phục tráng để nâng cấp chất lượng hạt giống. Hơn nữa, sau khi giống đến tay dân cày, họ hoàn toàn có thể tự nhân giống, sản xuất theo nhu cầu của mình.
Chính vì thế, TS Lê Hưng Quốc, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội thương nghiệp giống cây trồng Việt Nam cho rằng: Giải pháp trước mắt, Nhà nước cần tăng cường vốn đầu tư cho các trung tâm nghiên cứu giống, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác nghiên cứu, chọn tạo giống ở các viện nghiên cứu, trường đại học.
Bởi vậy, việc độc quyền khai khẩn giá trị thương nghiệp hầu như không được tính đến. Cứ như thế chu kỳ nhân giống thương phẩm số lượng lớn lại tiếp được vận hành cho tới khi giống đó không còn thích hợp với sinh sản đại trà. Tuy nhiên, hiện mới có 8 loài với số lượng khiêm tốn là 52 giống được cấp Bằng bảo hộ, trong đó lúa là 26, ngô 17, cỏ 1, dưa đỏ 2, lạc 1, khổ qua 3, rau đắng 1, đậu tương 1.
Ngoại giả để quyết định chọn một giống nào đó để mua bản quyền, tiêu chí quan yếu là giống đó, ngoài các ưu thế trội về năng suất, chất lượng… còn phải thích hợp với địa bàn đang và sẽ phục vụ. Thực tại cho thấy, để bảo đảm có đủ giống tốt, giống mới cung cấp cho sản xuất đại trà, nhiều năm qua Nhà nước đã quan hoài đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành giống cây trồng từ trung ương tới địa phương.
Điều này luật hiện hành không cấm. S Huỳnh Văn Nghiệp, Trưởng bộ môn Công nghệ hạt giống, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, đơn vị đã có hơn 50 giống được công nhận giống nhà nước, cho rằng: Tác giả của những giống lúa nói trên không mấy đằm thắm với việc xin cấp bằng bảo hộ, bởi việc làm ra các giống lúa tốt được xác định nhằm phục vụ nhu cầu sinh sản cho nông dân là chính và dùng nguồn ngân sách Nhà nước.