Không có gì quyến rũ hơn đối với trí hình dung nhạy cảm hơn là thứ bi kịch có sức lan tỏa; nó trao cho người nghệ sĩ giác quan về “sự khủng hoảng của thế giới” mà chẳng hề đòi hỏi anh ta phải đứng trước thách thức tự phẫu thuật chính mình. Nghệ thuật là một hình thức phản kháng lại sự bất toàn của hiện thực, cũng như là một nắm để sáng tạo nên một hiện thực khác với hy vọng nó sẽ sở hữu những dấu hiệu của sự hoàn thiện mà con người có thể nhận thức được, nếu không phải là cái có thể đạt được.
Kể từ thời kỳ đồ đá cũ, thơ đã là một phần trong đời sống của toàn bộ các tầng lớp của loài người; không có một tầng lớp nào tồn tại mà không từng biết đến một hình thức nào đó của thơ ca. Mọi thi sĩ trong những giây khắc của thơ ca, dù ngắn hay dài, đều nghe thấy giọng nói khác ấy, nếu họ là thi sĩ thực sự. Một trạng thái cuồng, nói khác đi, một cơn cuồng nộ linh thiêng, một sự tích cực, một sự chuyển vận.
… Mọi người sinh ra đã là một nhà thơ hoặc đã được sinh ra trong chất thơ. Song tôi không tin thơ đơn thuần chỉ là một thứ năng lực. Thơ là ký ức trở nên hình ảnh, và hình ảnh trở thành giọng nói.
Bản chất con người tự nó đã mang thi tính. Tuy nhiên, chừng như chính những người đã trải qua thảm kịch không xem họ là nhân vật trọng điểm và không thật sự chú ý đến những phương thức biểu lộ lại bi kịch, họ là hiện thân của chính họ mà thôi.
Tôi hồ nghi cái Tôi hiện đại này, vì cái Tôi đó càng mạnh mẽ bao nhiêu thì nó càng làm cho kẻ/cái khác bị thu nhỏ đi và xa rời hơn bấy nhiêu… Cái Tôi thực thụ phải hàm chứa nhiều người khác; chỉ khi ấy thơ ca mới có thể khơi dậy những phản ứng hăng hái.
Cả “vòng nguyệt quế” lẫn “tiền phong”, một lần nữa, về bản tính, đều là những khái niệm của thị trường.
107, No. Đầy và rỗng, bay bổng và rơi rụng, tích cực và sầu muộn: thơ là thế… Một bài thơ có thể mang phẩm chất đương đại ở chủ đề, tiếng nói, hình thức của nó, nhưng bởi thực chất sâu sắc của nó, giọng nói của thơ là giọng nói phản đương đại, biểu hiện những thực tại chẳng những xa xưa hơn rất nhiều những biến động của lịch sử mà còn không thẩm thấu được những thay đổi này.
Nhu cầu cải cách nghệ thuật, cũng như tinh thần tranh đấu vì cái mới ở người nghệ sĩ, không thực sự chứng tỏ sự phong phú của trí hình dong hay tiềm năng của chất liệu nghệ thuật, mà phần nhiều cho thấy khả năng nghệ thuật dễ bị chi phối bởi thực tế của thị trường và ham muốn hiệp tác với nó của người nghệ sĩ.
# Chúng. Bởi vậy, mọi đề cập về phương thức trình bày, tự nó, đã là dấu hiệu của sự thỏa hiệp. Nhưng cuồng chỉ một cực của tình trạng rối loạn; cực kia là sự khuyết diện, sự trống tuếch bên trong, là “sự lạnh lùng sầu muộn” mà thi sĩ nói đến.
Nhưng dẫu bị buộc ràng với một mảnh đất đặc thù và một lịch sử đặc thù, thơ xoành xoạch mở về phía xa hơn, xuyên lịch sử, trong mọi tả của nó. Và đối mặt với câu hỏi về khả năng tồn tại của loài người trên một hành tinh bị nhiễm độc và tàn phá, thơ ca không thể có cách phản ứng nào khác. Sẽ là thảm họa nếu triết học chính trị mới không chú ý đến những hiện thực bị vùi chôn, giấu giếm bởi những người đàn ông và những người nữ giới của thời kỳ đương đại.
Tôi đã viết như thế, từ những trải nghiệm của mình về đạo Phật. Tôi không có ý nói rằng cái khoảng xa hơn mà thơ mở ra ấy giống như một ý niệm đạo: tôi đang nói đến sự tưởng tượng về một phía khác của thực tại.
Dị giáo và sùng mộ, thơ ngây và đồi trụy, trong trẻo và u ám, lửng lơ trên không và chìm sâu dưới đất, thuộc về những tu viện và thuộc về những quán rượu bình dân, nằm trong tầm tay và luôn ở nơi xa. Ý niệm về những “phương thức diễn tả mới” được tạo ra bởi những người nghệ sĩ “vượt lên trước thời đại”, bản chất chỉ đề đạt ý niệm lãng mạn về người nghệ sĩ như là “người được phó sứ mệnh”, một dạng Demiurge (Đấng sáng tạo).
Ngày nay nhiều người tin rằng những tình cảnh đặc thù đòi hỏi phải có phương thức diễn tả đặc thù ứng. Chừng như đây là thời đại của cái Tôi cá nhân chủ nghĩa. Nhiệm vụ của nó không phải là cung cấp những tư tưởng mới mà là nói lên những gì đã bị quên lãng một cách dằng dai suốt nhiều thế kỷ. 1-8) Giọng nói khác ( Octavio Paz – thi sĩ Mexico được trao giải Nobel Văn chương 1990) … Giữa cách mạng và đạo, thơ là giọng nói khác.
Khi nhận định rằng cách hình dung về thế giới của người nghệ sĩ phải phức tạp hơn, rắc rối hơn hình dong của công chúng (chưa kể đến những bậc thầy sáng tạo tiền bối của anh ta) thì bản chất đó là cách nhìn cực kỳ phản dân chủ và không thuyết phục, vì hết thảy các hoạt động của nhân loại, trong hay sau những thảm họa, vốn đều dựa trên nhu cầu riêng và tùy thuộc vào sự diễn giải của từng người.
Sự trùng hợp này, cố nhiên có thể đề đạt cố gắng nhằm bình phục hoặc minh định sau những tai ách. Cho nên, cũng không phải là bơm quá đáng khi nói rằng những đòi hỏi của thị trường về căn bản cũng chính là những đòi hỏi của lịch sử. Giọng nói đó không phải được cất lên bởi những nhà tư tưởng cách mệnh của thời đại chúng ta, và điều này lý giải ít nhất là một phần sự thất bại thảm hại của những dự phóng mà họ theo đuổi.
Thế giới quan thảm kịch, sự nguyên tử hóa và phân mảnh tinh thần đương đại, vân vân, đang trở nên một thiên hướng phổ quát hiện giờ đến mức việc biểu lộ chúng hay sử dụng những phương tiện liên tưởng đến chúng có thể coi hầu như là để đáp ứng thị hiếu của thị trường.
(Nguồn: Ko Un, Human Nature Itself is Poetic, an interview with Patricia Donegan, Manoa, Vol. Mặc dù nói như thế có thể là thô thiển nhưng thực tiễn hiện sinh đã chứng minh nó có thể thao túng được ý thức của người nghệ sĩ và chứng cứ của điều này có thể tìm thấy ở phương thức trình diễn.
Đối với văn chương (và đặc biệt là thơ ca), mỗi khi người ta ráng dùng hai cuộc đời chiến, khí giới hạt nhân, những biến động xã hội, hay sự ghế hóa các phương pháp trấn áp, để biện minh (hay lý giải) cho sự xói mòn, kiệt của các hình thức và loại thể, thì đó đơn giản là một sự bóp méo lố bịch, nếu không muốn nói là một sự xúc phạm.
Chức năng của thơ ở thời khắc này sẽ là gì? Nếu, như tôi hy vọng và tin cẩn, một hình thái tư tưởng chính trị mới đang hiện hình, những người sáng tạo nên hình thái tư tưởng chính trị ấy sẽ phải biết ơn giọng nói khác.
Đó là quan niệm đã xuyên suốt sáng tác của tôi. Phật giáo bảo rằng mọi giống hữu tình đều mang Phật tính; như theo cách suy nghĩ của tôi thì Phật tính tự bản thân nó đã là thi tính. Thực chất con người tự nó đã mang thi tính ( Ko Un – thi sĩ Hàn Quốc liền tù tù được coi là ứng cử viên hàng đầu cho giải Nobel văn học) Nỗi buồn là mẹ của thơ.
Việc cho rằng người nghệ sĩ cảm thấy, hiểu được, và diễn đạt những điều mà người bình thường không thể đạt được, cũng không hề thuyết phục hơn mệnh đề nỗi đau thân xác của người nghệ sĩ, sự đói khát hay cảm giác thỏa mãn về dục tình ở anh ta mãnh liệt hơn so với người thường ngày.
Đó là số phận của một phần lớn trào lưu tiền phong của nghệ thuật châu Âu và Nga mà vòng nguyệt quế của chúng vẫn còn khiến cho nhiều người mất ngủ.
Cái chúng ta ngụ ý khi nói về mỹ học đương đại không có gì khác hơn là những tiếng ồn của lịch sử giáng xuống, lấn lướt bài ca của nghệ thuật. # Những dạng tâm lý đương đại, song trên thực tại, chúng thuần túy chỉ là những phân khúc thị trường, một thực tiễn mà bảng giá của thị trường có thể chứng nhận.
Khi nghệ thuật trường đoản cú nguyên tắc đáp lại nhu cầu tự thân này và từ bỏ sự sáng sủa, thì nghĩa là nó từ vị trí của mình, cam chịu làm chức năng trang hoàng thuần tuý.
Sự phi logic, sự biến dạng, tính trừu tượng, sự chói tai, phi mạch lạc, những mối liên kết tình cờ, hay ối các yếu tố vô thức – tuốt tuột những nguyên tố của mỹ học hiện đại trên lý thuyết đều được sử dụng một cách riêng rẽ hoặc phối hợp cùng nhau để trình diễn. Ảnh hưởng của thơ ca phải là thứ ảnh hưởng gián tiếp: nó nhắn nhủ, khơi mở, gợi hứng. Trước những đòi hỏi ở những thời đại ít kịch tính hơn, chả hạn như thời kỳ bùng nổ dân số, hắn còn khúm núm hơn nữa, muốn biến con chuột này trở nên con bò thiêng.
Con người cá nhân chủ nghĩa không thành kiến khúm núm trước ngọn núi của những thể xác đã khai sinh con chuột thơ tự do. Trên thực tế, đã mang thân phận người tức thị đã mang theo nỗi buồn; kể cả ái tình cũng là nỗi buồn. Ở phương Đông, hình tượng Đức Quan Âm là hình tượng của nỗi thông cảm nhưng cũng là một hình ảnh buồn; ở phương Tây, chúng ta có hình ảnh Đức Mẹ mang nỗi buồn của người nữ đồng trinh.
Đó là giọng nói của một thế giới khác và cũng là của thế giới này, của những quá vãng xa xưa và song song của chính ngày hôm nay, một thời xa xưa không ngày tháng.
Không phải là bằng cách chứng minh một cách logic mà chỉ là biểu hiện ra. Đó là giọng nói của họ, của ai đó, không của ai khác, chẳng của ai và của tất cả. ( Nguồn: Octavio Paz, The Other Voice - Essays on Modern Poetry , Harcourt Brace Jovanovich, Publishers, 1991 ) Thơ như là hình thức chống cự thực tiễn ( Joseph Brodsky – nhà thơ Nga lưu vong nhận Giải Nobel Văn chương 1987 ) Thế kỷ XX hình như đã bắt ắt các nghệ thuật khác phải khuất phục, trừ thơ.
Chức năng của thơ, trong khoảng 200 năm qua, là nhắc ta nhớ đến sự tồn tại của những hiện thực ấy; thơ ca của tương lai cũng chẳng thể làm gì khác hơn.
Dĩ nhiên, nhà thơ phải là một cá nhân chủ nghĩa với đời sống bên trong sâu thẳm nhưng sẽ chẳng là gì nếu đó chỉ là thế giới bên trong của riêng anh và anh không thể thoát ra khỏi nó. Y học cổ đại, và cả triết học cổ đại nữa, bắt đầu từ Plato, đã gắn năng lực sáng tạo thơ ca với dạng rối loạn tâm thần. # Mà người nghệ sĩ dùng. Và thi sĩ là bạn của nỗi buồn, nhưng tôi không dám chắc liệu trong những thế kỷ tới, mỗi quan hệ giữa con người và nỗi buồn liệu có vẫn còn nguyên; văn hóa sẽ đổi thay, sẽ có nhiều khác biệt… Tôi cho rằng thi sĩ không phải là thầy của người khác, mà là một người bạn.
Nghệ thuật đích thực luôn là một thứ nghệ thuật dân chủ chính là ở chỗ nó không có mẫu số nào chung, trong cả tầng lớp và lịch sử, ngoài giác quan rằng hiện thực là bất toàn và con người nên kiếm cái tốt đẹp hơn… (Nguồn: Joseph Brodsky, Poetry as a Form of Resistance to Reality , PMLA, Vol. Chẳng có gì phân biệt nhà thơ với những người đàn ông hay phụ nữ khác ngoại trừ những phút giây ấy – những khoảnh khắc đặc biệt nhưng cũng thẳng tắp – lúc đó, khi là chính mình, họ song song là kẻ khác.
Đó là sự sở hữu những sức mạnh và quyền năng lạ kỳ, sự xuất hiện bất ngờ của một khối tiềm thức vốn bị vùi chôn nơi sâu kín, tây riêng nhất trong bản thể thi sĩ, hay đó chỉ là một kỹ năng riêng lẻ để kết hợp từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, hình thức? Không dễ để giải đáp những câu hỏi như vậy. 220-225 ) Hải Ngọc dịch. Thơ là giọng nói khác bởi lẽ đó là giọng nói của ham mê và của hình dung.
Giọng nói khác không phải là giọng nói từ bên kia huyệt mộ: đó là giọng nói của con người ngủ vùi ngay ở trọng tâm trái tim nhân loại. 18, No. 1, 2006, p. Mà cho dù có như vậy thì năng lực đó đến từ đâu? Tóm lại, dù có là gì đi nữa, điều vững chắc là sự lập dị phi thường nhất của hiện tượng thơ gợi ta liên can đến một chứng tâm bệnh vẫn còn đợi sự chẩn đoán của thầy thuốc.
Chả hạn, các trường phái, trào lưu trong hội họa thường nảy nở nhiều chính tại những thời kỳ thịnh vượng và thái bình. Mường tượng đó là điểm chung của con đứa ở mọi thời đại; nó là một thứ kinh nghiệm mà nghe đâu đối với tôi, có trước mọi tôn giáo và triết học… Như nhiều người đã nói, giờ đây, chúng ta đang chứng kiến một sự đổi thay lớn lao.
Ngày nay, nhìn vào thơ ca Hàn Quốc và thơ ca thế giới nói chung, hình như thơ không còn chứa đựng những lịch sử lớn nữa mà càng ngày càng tự dịch chuyển mình và trở nên một thung lũng nhỏ hẹp của bản ngã.
Chúng ta băn khoăn không biết mình đang trải nghiệm sự cuối kết của tính hiện đại năng sự đổi mới của nó. Mọi thứ chủ nghĩa vừa là bằng chứng, trực tiếp hay gián tiếp, về sự thất bại của nghệ thuật, vừa là một vết sẹo phủ lên nỗi tủi nhục vì sự thất bại này. Nhưng điều này là hoàn toàn xa lạ với với con người thời Hi Lạp cổ đại, thời La Mã, Phục Hưng, hay Khai Sáng.
Giọng nói ấy đã có cả nghìn năm tuổi, nó bằng tuổi của tôi và của bạn và song song, nó vẫn còn chưa được sinh ra. 2, Mar. Với cách nhìn tuy sinh ra sau nhưng lại được quý trọng hơn, lịch sử đã áp đặt cái hiện thực của nó lên nghệ thuật. Khi người khác phiền hay đau ốm, nếu không có nhà thơ để nói về điều đó, vậy sẽ là cái gì thay thế? Tuy nhiên, về cái Tôi của thi sĩ, tự bản thân tôi cảm thấy nghi hoặc chữ Tôi ấy.
1992, p. Người của thời La Mã vẫn thưởng thức văn bản thời Hy Lạp, người của thời Phục Hưng thưởng thức Hy Lạp và La Mã, và các học giả thời Khai Sáng thì thưởng thức cả Hy Lạp, La Mã và Phục Hưng, mà chẳng hề có tinh thần phân định cao thấp giữa các đề tài – dù đó là sử thi Chiến tranh thành Troy, truyện khiêu dâm, bách khoa sinh vật biển Adriatic, hay thánh thư.
Nó là ông bà của ta, anh em của ta và là con cháu của ta… Có thể nói không thổi phồng rằng chủ đề chính trong những ngày chung cục của thế kỷ của chúng ta không phải là tổ chức chính trị hay tái cấu trúc các xã hội mà là một câu hỏi khẩn thiết hơn: Làm thế nào để chúng ta có thể đảm bảo cho sự tồn tại của nhân tính? Đối mặt với thực tế này, thơ ca có thể làm được gì? Cái giọng nói khác kia phải nói những gì? Như tôi đã nói trước đó, nếu một hình thái tư tưởng chính trị mới được hình thành, ảnh hưởng của thơ ca sẽ là gián tiếp: nó nhắc chúng ta nhớ đến những hiện thực nào đó bị vùi lấp, khôi phục chúng trở lại đời sống và trình diễn.